Khi một hệ thống điện cực đất đã được thiết kế và lắp đặt. Thông thường cần phải đo và xác nhận lại điện trở của một điện cực nối đất. Phương pháp đo điện trở đất của điện cực đất được sử dụng phổ biến nhất là kỹ thuật đo 3 điểm như trong Hình 1.

Phương pháp này bắt nguồn từ phương pháp 4 cực. Được sử dụng để đo điện trở suất của đất.

ĐO ĐIỆN TRỞ CỦA MỘT ĐIỆN CỰC NỐI ĐẤT – PHƯƠNG PHÁP 3 CỰC
Phương pháp này gồm Điện cực nối đất cần đo và hai điện cực thử nghiệm độc lập về điện khác. Thường được dán nhãn P (điện thế) và C (Dòng điện). Các điện cực thử nghiệm này có thể có “chất lượng” kém hơn điện cực cần đo. Nhưng phải độc lập về điện với điện cực cần đo.
Khi một hệ thống điện cực đất đã được thiết kế và lắp đặt. Thông thường cần phải đo và xác nhận điện trở đất giữa điện cực và “Trái đất thực”. Phương pháp đo điện trở đất của điện cực đất được sử dụng phổ biến nhất là kỹ thuật đo 3 điểm như trong Hình 1.
Một dòng điện xoay chiều (I) được chạy qua điện cực C bên ngoài. Và điện áp được đo bằng điện cực bên trong P, tại một số điểm trung gian giữa chúng.
Khi thực hiện phép đo. Mục đích là đặt điện cực thử nghiệm phụ C đủ xa so với điện cực nối đất cần thử nghiệm. Sao cho điện cực thử nghiệm phụ P sẽ nằm bên ngoài vùng điện trở hiệu dụng của cả hệ thống nối đất và điện cực thử nghiệm khác (xem Hình 3).

Phương pháp 3 cực
- Nếu điện cực kiểm tra dòng điện (C1) quá gần. Các vùng điện trở sẽ chồng lên nhau. Và sẽ có sự thay đổi lớn về điện trở đo được khi điện cực kiểm tra điện áp (P1) được di chuyển.
- Nếu điện cực kiểm tra dòng điện được đặt đúng vị trí. Sẽ có một vùng điện trở ‘phẳng’ (hoặc gần như vậy) ở đâu đó giữa nó và hệ thống nối đất. Và các thay đổi về vị trí của điện cực kiểm tra điện áp sẽ chỉ tạo ra những thay đổi rất nhỏ trên đường cong điện trở.
ĐO ĐIỆN TRỞ CỦA MỘT ĐIỆN CỰC NỐI ĐẤT – PHƯƠNG PHÁP ĐIỂM RƠI ĐIỆN THẾ
Đây là một trong những phương pháp phổ biến nhất. Được sử dụng để đo điện trở đất và phù hợp nhất với các hệ thống nhỏ “không bao phủ một khu vực rộng”. Nó rất đơn giản để thực hiện và yêu cầu một lượng tính toán tối thiểu để thu được kết quả.

Phương pháp này thường không phù hợp với các hệ thống nối đất lớn. Vì việc tách cọc cần thiết để đảm bảo phép đo chính xác có thể không thực hiện được. Và đòi hỏi phải sử dụng dây dẫn thử nghiệm rất dài (tham khảo Bảng 1).
Phương pháp điểm rơi điện thế kết hợp kiểm tra để đảm bảo rằng các điện cực thử nghiệm thực sự được đặt đủ xa để thu được kết quả chính xác. Việc kiểm tra này nên được thực hiện, vì đây thực sự là cách duy nhất để đảm bảo kết quả chính xác. Để thực hiện kiểm tra chỉ số điện trở, cần thực hiện hai phép đo bổ sung:
- Đầu tiên với điện cực kiểm tra điện áp (P) ta dịch chuyển khoảng cách 10% so với vị trí ban đầu so với điện cực nối đất.
- Lần thứ hai, di chuyển một khoảng gần hơn 10% so với vị trí ban đầu, như hình 5.

ĐO ĐIỆN TRỞ CỦA MỘT ĐIỆN CỰC NỐI ĐẤT – PHƯƠNG PHÁP 62%
Phương pháp điểm rơi điện thế có thể được điều chỉnh một chút để sử dụng với các hệ thống nối đất cỡ trung bình. Sự điều chỉnh này thường được gọi là Phương pháp 62%. Vì nó liên quan đến việc định vị cọc thử nghiệm bên trong ở mức 62%. Khoảng cách giữa điện cực đất với cọc bên ngoài.
Tất cả các yêu cầu khác về vị trí cọc thử – rằng chúng nằm trên một đường thẳng. Và được đặt cách xa các cấu trúc khác vẫn có giá trị.
Khi sử dụng phương pháp này, cũng nên lặp lại các phép đo với cọc thử nghiệm bên trong. Được di chuyển ±10% khoảng cách giữa cọc thử nghiệm bên trong với điện cực nối đất như trước đây.
Nhược điểm chính của phương pháp này là lý thuyết dựa trên nó dựa trên giả định rằng lớp đất bên dưới là đồng nhất. Điều này hiếm khi xảy ra trong thực tế. Do đó, cần thận trọng khi sử dụng và phải luôn tiến hành khảo sát điện trở suất của đất.
CÁC PHƯƠNG PHÁP THỬ NGHIỂM KHÁC
Có nhiều phương pháp khác để đo điện trở đất. Nhiều phương pháp trong số này đã được thiết kế nhằm giảm bớt sự cần thiết phải phân tách điện cực quá mức. Khi đo các hệ thống nối đất lớn hoặc yêu cầu phải biết tâm điện thế của hệ thống nối đất.
(a) Phương pháp độ dốc
Phương pháp này phù hợp để sử dụng với các hệ thống nối đất lớn. Chẳng hạn như nối đất trạm biến áp.
Nó liên quan đến việc thực hiện một số phép đo điện trở ở các hệ thống nối đất khác nhau. Để phân tách điện áp và sau đó vẽ một đường cong của sự thay đổi điện trở giữa cực nối đất và dòng điện.
Nỗ lực đo lường và tính toán bổ sung có xu hướng chỉ sử dụng với các hệ thống nối đất rất lớn. Hoặc phức tạp.

(b) Phương pháp Sao-Tam giác
Kỹ thuật này rất phù hợp để sử dụng với các hệ thống lớn ở các khu vực đã xây dựng. Hoặc trên địa hình đá, nơi có thể khó tìm được vị trí thích hợp cho các điện cực thử nghiệm. Đặc biệt là trên một khoảng cách dài theo đường thẳng.
Ba điện cực thử nghiệm, được đặt ở các góc của một tam giác đều với hệ thống nối đất ở giữa. Được sử dụng và các phép đo được thực hiện với tổng điện trở giữa các điện cực liền kề. Cũng như giữa mỗi điện cực và hệ thống nối đất.
(c) Phương pháp bốn cực (phương pháp Wenner)
Giúp khắc phục một số vấn đề liên quan đến yêu cầu biết tâm điện. Của hệ thống tiếp đất đang được thử nghiệm.
Phương pháp này thiết lập tương tự như “phương pháp điểm rơi điện thế” tiêu chuẩn. Ngoại trừ một số phép đo được thực hiện với điện cực điện áp ở các vị trí khác nhau và một tập hợp các phương trình. Được sử dụng để tính toán điện trở lý thuyết của hệ thống.
Nhược điểm chính của phương pháp bốn điểm điện thế là giống như phương pháp điểm rơi điện thế. Nó có thể yêu cầu khoảng cách tách điện cực quá lớn nếu hệ thống tiếp đất được đo lớn.
POSOTEC chuyên nhận đo điện trở nối đất. Quý khách hàng có thể liên hệ với POSOTEC theo hotline 0935 228 628. Để được hỗ trợ thông tin nhanh nhất!
——⚡——⚡——-
CÔNG TY TNHH KỸ THUẬT POSO
👉 Địa chỉ: 37 Hoàng Hoa Thám, Đà Nẵng
👉 Fanpage: POSOTEC Co., Ltd
👉 Website: posotec.com

